Chào mừng quý vị đến với Website của vu_binh_nga.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

nhà thơ tế hanh qua đời

 

Thứ Năm, 16/07/2009, 15:41

Nhà thơ Tế Hanh đã "về với sông nước quê hương"

Nhà thơ Tế Hanh - tác giả của bài thơ Nhớ con sông quê hương nổi tiếng đã qua đời

lúc 12g ngày hôm nay (16-7-2009) tại Hà Nội sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh xuất huyết não.

Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20-6-1921, tại thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thuở nhỏ học trường làng, trường huyện sau ra học tại trường Quốc học Huế. Tế Hanh được biết đến nhiều với các tác phẩm như Nhớ con sông quê hương, Quê hương - hai bài thơ từng được đưa vào chương trình học phổ thông.

Năm 1947, Tế Hanh làm việc trong Ban phụ trách Trường trung học bình dân Trung bộ, năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách liên đoàn văn hóa kháng chiến Nam Trung bộ ủy viên thường vụ chi hội Văn nghệ Liên khu V.

Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Ủy viên thường vụ Hội khóa I, II, ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1963), tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khóa, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch thuật (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).

Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Tế Hanh ra đi, giờ đây, những thi sĩ của "Thi nhân Việt Nam" chỉ còn lại mỗi Xuân Tâm!

Ông là một trong những nhà thơ thành công trong cả phong trào Thơ mới và sau cách mạng tháng Tám với những bài thơ tinh tế và giàu cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước.

Ông sáng tác thơ từ sớm và đã đứng trong phong trào Thơ mới với tập Nghẹn ngào giành giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Tham gia Việt Minh từ tháng 8 năm 1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng, là Ủy viên giáo dục trong ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã ca ngợi ông "Tế Hanh là một người tinh lắm, Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy được cả những điều không hình sắc, không thanh âm như mảnh hồn làng, trên cánh buồm giương, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ, con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi..."

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã từng giành nhiều tình cảm khi viết về ông như: "Trong thơ Việt Nam tiền chiến, ông chưa bao giờ tạo được một sự hấp dẫn lạ lùng như Hàn Mặc Tử hoặc Nguyễn Bính, cũng không có lúc nào làm chủ thi đàn như Thế Lữ hoặc Xuân Diệu. Nhưng ông vẫn có chỗ của mình. Tập Nghẹn ngào từng được giải thưởng Tự Lực văn đoàn. Từ sau 1945, ông vẫn làm thơ đều đều, những tập thơ mỏng mảnh, giọng thơ

không có gì bốc lên nồng nhiệt, nhưng được cái tình cảm hồn nhiên, và tập nào cũng có một ít bài đáng nhớ, khiến cho ngay sau Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu người ta nghĩ ngay đến Tế Hanh." (Vương Trí Nhàn, Cây bút đời người).

Những tập thơ tiêu biểu của ông bao gồm: Hoa niên (1944); Tập thơ tìm lại (1945); Hoa mùa thi (1948); Nhân dân một lòng (1953); Lòng miền Nam (1956 ); Gửi miền Bắc (1958); Tiếng sóng (1960); Bài thơ tháng bảy (1961), Hai nửa yêu thương (1963); Khúc ca mới (1966); Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973); Theo nhịp tháng ngày (1974), Giữa những ngày xuân (1977), Con đường và dòng sông (1980); Bài ca sự sống (1985), Tế Hanh tuyển tập (1987); Thơ Tế Hanh (1989 ); Vuờn xưa (1992); Giữa anh và em (1992); Em chờ anh (1993 ); Tuyển tập Tế Hanh (tập II, 1997).

Quê Hương

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng

Dân trai tráng giong thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng lũ lượt kéo ghe về

Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Nhớ con sông quê hương

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.

Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng

Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?

Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!

Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ

Sông của miền Nam nước Việt thân yêu

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả

Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển

Vẫn trở về lưu luyến bên sông

* * *

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc

Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng "miền Nam"

Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng

Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc

Tôi nhớ cả những người không quen biết...

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy

Hình ảnh con sông quê mát rượi

Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới

Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông

Tình Bắc Nam chung chảy một dòng

Không ghềnh thác nào ngăn cản được

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước

Tôi sẽ về sông nước của quê hương

Tôi sẽ về sông nước của tình thương...

T.H.

Thứ Năm, 16/07/2009, 19:41

Thơ Tế Hanh vẫn không ngừng chảy trôi

Mười năm nay, Tế Hanh đã trò chuyện với thơ mình, với dòng sông quê hương mình, dòng sông đời mình trong im lặng. Đó là số phận của nhà thơ, nhưng không phải số phận của thơ ông. Thơ Tế Hanh vẫn không ngừng chảy trôi, ca hát, lặng lẽ và róc rách như dòng sông Trà Bồng quê ông, vẫn tưới tắm mát đẫm bao tâm hồn người dân Việt yêu làng quê mình, đất nước mình, và yêu thơ...

Viết Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh viết về sông Trà Bồng, đoạn chảy qua làng Thuận Yên của mình, chứ không lẫn một con sông nào khác, nhưng tình cảm trong bài thơ ấy lại dành cho tất cả những dòng sông Việt Nam... Thơ Tế Hanh không lẫn với thơ của bất cứ nhà thơ Việt nào khác, nhưng đó lại là thơ Việt thuần chất. Đó là thơ mộc mạc sau khi đi qua sự tinh chế của tâm hồn, là thơ hồn nhiên khi chưa nếm trải và khi đã qua bao nhiêu nếm trải.

"Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng"

Cuộc sống thanh bình bên sông Trà Bồng

quê hương của Tế Hanh

Tôi yêu thơ Tế Hanh như yêu những dòng sông quê hương tôi, như yêu cái mát lành êm ả cũng như những khoảnh xanh không còn tìm thấy lại của tuổi thơ mình. Hiếm có nhà thơ Việt nào lại có những bài thơ hay, đi vào lòng bạn đọc bất kể họ là người có học hay không có học, người trí thức hay người dân quê như thơ Tế Hanh. Có thể kể Nguyễn Bính, nhưng thơ Tế Hanh lại là một dòng "thơ đồng quê" khác với thơ Nguyễn Bính, nó không trau chuốt như thơ Nguyễn Bính nhưng lại đằm thắm và bất chợt hơn thơ Nguyễn Bính, như cách mà dòng sông chảy qua nhiều vùng đất nhiều thung thổ khác nhau.

Tôi được quen và chơi với Tế Hanh từ sau giải phóng, kể cũng vài chục năm. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy Tế Hanh tự "quảng cáo" về thơ mình. Ông bình thản, dung dị như vùng đất "nước bao vây cách biển nửa ngày sông" của quê hương ông, như chính thơ ông mà ông luôn tự biết và không tự biết. Nhà thơ đích thực là vậy, luôn biết và luôn không tự biết về thơ mình.

Trong cuộc đời làm thơ không hề ngắn của mình, với hàng nghìn bài thơ đã viết, không phải bài thơ nào cũng hay, cũng "đi vào bất tử", nhưng Tế Hanh, theo tôi biết, không bao giờ lấy đó làm điều. Ông vẫn bình thản viết, bình thản không viết, và luôn trân trọng đọc bất cứ tác phẩm của nhà thơ nào khác, ngoài mình. Đó cũng lại là một phẩm chất của nhà thơ lớn, khi biết đọc, biết cảm, biết quí trọng sáng tác của những nhà thơ khác, và không biết hoặc không cần "PR" cho thơ mình.

"Bạn bè tôi tụm năm, tụm bảy/ Bầy chim non bơi lội trên sông/

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng/ Sông mở nước ôm tôi vào dạ..."

Thơ Tế Hanh cứ tự nhiên mà sống, cứ tự nhiên mà đi vào lòng bạn đọc, cứ tự nhiên mà cư ngụ ở nơi cao đẹp nhất là trí nhớ con người. Tôi đã về quê Tế Hanh, đã nghe những người dân chài lưới ở đó đọc thuộc lòng những bài Quê hương, Nhớ con sông quê hương. Tôi cũng đã gặp và thân với nhiều nhà "khoa bảng", những trí thức thứ thiệt, và cũng đã nghe họ đọc những bài thơ Tế Hanh sáng tác trước và sau Cách mạng tháng tám.

Chiều nay (16-7), một nhà báo đã gọi điện phỏng vấn tôi về thơ Tế Hanh, và anh nói "hình như người ta cho rằng thơ Tế Hanh sau Cách mạng không hay như thơ Tế Hanh thời Thơ Mới". Tôi đã cười, và đề nghị ai nói đó nên đọc lại thơ Tế Hanh cả trước và sau Cách mạng. Thơ là thơ, không phải lúc nào nhà thơ cũng làm được những bài thơ hay, nhưng thơ xuất phát từ trong tim, trong hồn nhà thơ chứ không phải từ bên ngoài.

Tế Hanh sau năm 1975 vẫn có những bài thơ rất hay, những bài thơ vừa mộc mạc vừa hồn nhiên "lơ ngơ" đúng chất Tế Hanh, và đã khiến bao người đọc phải xiêu lòng. Mười năm nay, Tế Hanh đã trò chuyện với thơ mình, với dòng sông quê hương mình, dòng sông đời mình trong im lặng. Đó là số phận của nhà thơ, nhưng không phải số phận của thơ ông.

Thơ Tế Hanh vẫn không ngừng chảy trôi, ca hát, lặng lẽ và róc rách như dòng sông Trà Bồng quê hương ông, vẫn tưới tắm mát đẫm bao tâm hồn người dân Việt yêu làng quê mình, đất nước mình, và yêu thơ. Có thể nói, Tế Hanh đã có tới 10 năm để, trong im lặng, nhìn thấy thơ mình sống. Đó chẳng phải là một niềm hạnh phúc kỳ lạ cho người làm thơ sao? Nhà thơ THANH THẢO

Những ngày nghỉ học

Những ngày nghỉ học tôi hay tới

Đón chuyến tàu đi, đến những ga

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu

Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vướng víu trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau

Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề

Khói phì như nghẹn nỗi đau tê

Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ

Lòng của người đi kéo kẻ về

Kẻ về không nói bước vương vương

Thương nhớ lan xa mấy dặm đường

Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.

(Trích từ tập thơ Nghẹn ngào (1939) )

Vườn xưa

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc

Hai ta ở hai đầu công tác

Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa

Như mặt trăng, mặt trời cách trở

Như sao hôm, sao mai không cùng ở

Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?

Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu

Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn

Em theo chim đi về tháng tám

Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà

Nghe mẹ nói anh có về hái ổi

Em nhìn lên vòm cây gió thổi

Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè

Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt

Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt

Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc

Hai ta ở hai đầu công tác

Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?

(Trích từ tập Vườn xưa (1992) - bài thơ này đã được nhạc sĩ Thế Bảo phổ nhạc)

==================

Ngày 17/07/2009, 09:24

Nhà thơ Tế Hanh qua đời: Một đời hồn hậu như thơ

Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận... và giờ đây Tế Hanh. Lớp "thi nhân Việt Nam" mở đường cho thơ Việt hiện đại giờ đây xa thăm thẳm...

Tế Hanh họ Trần. Trần Tế Hanh sinh ngày 20-6-1921 tại xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Mười lăm tuổi xa nhà ra Huế học / Tôi bắt đầu cùng các bạn làm thơ. 17 tuổi đăng bài Ga và Con đường quê. Năm 1938 dành trọn ba tháng hè làm thơ, 29 bài, lấy tên Nghẹn ngào, gửi Tự Lực Văn Đoàn dự thi thơ, được giải khuyến khích cùng với tập Bức tranh quê của Anh Thơ (1939). Năm 1944, tập thơ được bổ sung và xuất bản dưới tên Hoa niên.

Thơ Tế Hanh, ngay ở tập thơ đầu này đã mang một tình cảm đằm thắm, đôn hậu như mãi mãi sau này. Cách viết trong sáng giản dị. Tình mến thương yêu dấu chân thành. Đề tài là những cảnh những người quen thuộc quanh

ông: cái làng quê chài lưới nước bao vây cách biển nửa ngày sông, là những con người làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm (Quê hương), là dòng sông, cánh buồm, con đường quê, cái sân ga... và những rung động của mối tình đầu chưa rõ nét. Thơ ông cũng phảng phất buồn, cái buồn chung của thơ ca lãng mạn hồi ấy. Nét buồn Tế Hanh thanh sạch, trong trẻo, vị tha và rất hiền lành:

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu

Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vướng vít trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.

(Những ngày nghỉ học)

Trong kháng chiến chống Pháp, sau mấy năm loạc choạc tìm đường Sang bờ tư tưởng ta lìa ta, Tế Hanh đã tìm về cảm xúc thuần hậu vốn có của mình nhưng trên khuynh hướng tư tưởng mới. Sau ngày tập kết ra Bắc (1954), thơ ông chín trong chặng phát triển mới. Ông lại nói tới những gì quen thuộc với hồn ông, phù hợp với tạng cảm xúc của ông: cái giếng đầu làng, con sông quê hương, nỗi niềm thương mẹ, nhớ quê... trong tư thế cảm xúc mới. Đề tài đấu tranh thống nhất đất nước, với Tế Hanh, đã thành một vấn đề tình cảm Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền. Thơ ông chín trở lại là chính trong nguồn tình cảm ấy.

Sức mạnh thơ Tế Hanh là ở tình cảm. Tình cảm đằm thắm, sâu nặng trong những câu thơ dễ hiểu, dễ nhớ. Tế Hanh có biệt tài từ những ý thơ giản dị, thô mộc rất ngoại giới mà đụng vào cõi nội tâm sâu sắc, thấm thía một cách rất tự nhiên, hồn nhiên. Năm 1957, trong bài thơ tình yêu Vườn xưa, nét kể và nét cảm cộng hưởng nhau rất tài tình:

Em nhìn lên vòm cây gió thổi

Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Năm 1981, trong một lần về quê thăm mộ mẹ, một câu hỏi thật thà như buột ra mà thăm thẳm nỗi lòng:

Quê mẹ không còn mẹ

Bao giờ con lại về

Trong đời, Tế Hanh cũng hồn hậu như trong thơ. Năm 1964, lần đầu tiên tôi thấy ông là trong một cuộc họp thơ ở trụ sở Hội Nhà văn nằm ở căn nhà phía trước nhà 65 Nguyễn Du bây giờ. Tôi mới đăng vài bài thơ, khi nghe gọi tên, tôi đứng dậy lúng túng và cũng lúng búng nữa thì Tế Hanh, anh ngồi phía đối diện, cặp mắt rất sáng đúng như Hoài Thanh đã tả ("đôi mắt nồng nàn lạ") trong Thi Nhân Việt Nam, đứng dậy nhìn tôi thân ái: Phương mới đăng bài thơ tình yêu trên Văn Nghệ phải không? Tôi có chú ý bài thơ đó... Anh Tế Hanh nói gì nữa hôm ấy tôi không nhớ nhưng tôi biết rằng tình cảm từ kính phục chuyển sang yêu mến thân gần của tôi đối với anh và các nhà thơ lứa trước cách mạng là bắt đầu từ hôm đó.

Sau này, khi tôi ở căn nhà chỉ cách nhà anh nửa vòng hồ Thiền Quang (Hà Nội), mỗi lần đi bộ đến báo Văn Nghệ, anh lại ghé vào chơi. Căn phòng tôi chật và tối, tôi thường tận dụng lúc tiễn anh đi quanh hồ để trò chuyện. Nhớ một sáng mồng 1 tết, khi cả phố còn yên ắng thì anh đến. Tôi chỉ kịp choàng chiếc áo bông, rồi cứ quần áo nhàu nát đi cùng anh quanh hồ. Cũng chả có chuyện gì cấp bách, anh tâm sự những chuyện tình yêu ngày còn trẻ. Anh kể và như đắm chìm vào kỷ niệm, không để ý đã đi hết một vòng hồ và đường phố cũng đã đông dần. Tôi không dám cắt ngang câu chuyện, thành kính lắng nghe. Chỉ hơi áy náy trong ánh nhìn của người đi đường hình như có vẻ ngạc nhiên với áo quần hai ông con đi chơi tết.

Năm 1999, trong lễ kỷ niệm 40 năm đường 559, Phạm Tiến Duật đang đọc thơ thì anh Tế Hanh gục xuống. Một cơn đột quỵ nặng. Anh thoát chết nhưng bị liệt hoàn toàn, lòa mắt và không nói được. Đến thăm anh, có lần anh nhận ra, tiếng khóc "hực" không nước mắt của người cao niên làm đau uất mọi người có mặt, lần sau đến, anh không còn nhận ra. Mười năm anh sống đấy mà cách bức với đời. Nhắc đến anh, ai cũng ngậm ngùi và chiều nay thì trào nước mắt... Theo Tuổi trẻ


Nhắn tin cho tác giả
Đặng Thúc Bình @ 00:08 18/07/2009
Số lượt xem: 1102
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

ẢNH THÀNH VIÊN